Lúa là cây trồng chủ lực của nền nông nghiệp Việt Nam, nhưng cũng thường xuyên đối mặt với nhiều loại bệnh hại có thể gây thiệt hại nghiêm trọng nếu không phát hiện và xử lý kịp thời từ nấm, vi khuẩn cho đến virus lây truyền qua côn trùng môi giới. Bài viết sau đây tổng hợp 6 bệnh hại phổ biến trên cây lúa, giúp bà con nhận biết sớm các dấu hiệu đặc trưng để có phương án can thiệp đúng lúc, đúng cách.

1. Đạo ôn

Đạo ôn là bệnh do nấm Pyricularia oryzae gây ra, một trong những bệnh hại nguy hiểm trên cây lúa vì khả năng lây lan nhanh qua không khí. Vết bệnh đặc trưng có hình mắt én, tâm màu xám trắng, viền nâu, xuất hiện chủ yếu trên lá. Nếu nấm bệnh tấn công vào giai đoạn trổ bông, đạo ôn có thể gây khô cổ bông, khiến hạt lép hoàn toàn và thiệt hại gần như toàn bộ năng suất ở những ruộng bị nhiễm nặng. Bệnh thường bùng phát mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm, nhiều sương mù, đặc biệt ở những ruộng bón thừa đạm.

Bệnh đạo ôn trên cổ bông, cổ lá và trên lá
Bệnh đạo ôn trên cổ bông, cổ lá và trên lá

2. Đốm vằn (khô vằn)

Bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani gây ra, thường xuất hiện sau giai đoạn lúa đẻ nhánh tối đa – khi ruộng lúa rậm rạp, ẩm độ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển. Vết bệnh có dạng vằn vện loang lổ như da hổ, xuất hiện đầu tiên ở bẹ lá gần mặt nước rồi lan dần lên lá. Nếu không kiểm soát kịp thời, bệnh có thể khiến từng chòm lúa trong ruộng bị cháy khô, ảnh hưởng đến khả năng quang hợp và làm giảm năng suất đáng kể.

Bệnh đốm vằn (khô vằn)
Bệnh đốm vằn (khô vằn)

3. Bạc lá (cháy bìa lá)

Khác với hai bệnh trên do nấm gây ra, bạc lá lúa là bệnh do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây hại. Triệu chứng đặc trưng là vết cháy chạy dọc theo hai bìa lá, bắt đầu từ chóp lá lan dần xuống phía dưới, mép vết bệnh có hình gợn sóng đặc trưng, dễ phân biệt với các bệnh do nấm.

Bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện mưa bão, ruộng ngập úng hoặc khi cây lúa bị tổn thương cơ học. Nếu để bệnh lan rộng, năng suất có thể giảm sút nghiêm trọng do tỷ lệ hạt lép lửng tăng cao. Bà con nên tìm hiểu kỹ quy trình chăm sóc và phòng trừ bệnh để chủ động xử lý ngay khi phát hiện dấu hiệu đầu tiên.

Dấu hiệu bạc lá (cháy bìa lá) trên lúa
Dấu hiệu bạc lá (cháy bìa lá) trên lúa

4. Lem lép hạt

Lem lép hạt không phải do một tác nhân gây bệnh cố định, mà là hội chứng do nhiều loại nấm và vi khuẩn phối hợp gây ra, thường xuất hiện ở giai đoạn hạt vào chắc. Biểu hiện dễ nhận thấy là vỏ trấu bị biến màu, có thể chuyển nâu, đen hoặc tím tùy tác nhân gây bệnh – kèm theo tình trạng hạt lép hoặc lửng. Bệnh thường nặng hơn ở những ruộng gặp thời tiết bất lợi trong giai đoạn trổ và vào chắc, như mưa kéo dài hoặc ẩm độ không khí cao liên tục nhiều ngày.

Bệnh lem lép hạt lúa
Bệnh lem lép hạt lúa

5. Lùn xoắn lá

Bệnh lùn xoắn lá là bệnh do virus gây ra và lây lan chủ yếu qua rầy nâu – loại côn trùng đóng vai trò môi giới truyền bệnh. Cây lúa bị nhiễm bệnh thường lùn thấp bất thường, lá có màu xanh đậm hoặc chuyển vàng cam, đặc biệt phần chóp lá xoắn lại như lò xo.

Ở mức độ nặng, cây bị nghẹn đòng, không thể trổ bông. Đây được xem là một trong những bệnh nguy hiểm trên cây lúa vì khả năng lây lan nhanh trên diện rộng thông qua quần thể rầy nâu di chuyển giữa các ruộng, và rất khó xử lý dứt điểm khi đã bùng phát thành dịch.

Bệnh lùn xoắn lá trên lúa
Bệnh lùn xoắn lá trên lúa

6. Lúa von

Lúa von là bệnh do nấm gây ra, chủ yếu lây truyền qua hạt giống nhiễm mầm bệnh từ vụ trước. Triệu chứng đặc trưng là cây lúa phát triển cao vọt bất thường so với các cây xung quanh, thân mảnh khảnh, yếu ớt, lá có màu xanh nhạt rồi dần chuyển vàng và chết. Vì nguồn bệnh chủ yếu đến từ hạt giống, việc xử lý giống trước khi gieo sạ bằng cách ngâm ủ đúng kỹ thuật hoặc sử dụng giống đã qua kiểm định sạch bệnh đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc phòng ngừa bệnh lúa von ngay từ đầu vụ.

Bệnh lúa von
Bệnh lúa von

7. Phát hiện sớm, can thiệp đúng lúc để xử lý bệnh hại trên lúa

Nhìn chung, phần lớn bệnh hại trên cây lúa đều có thể kiểm soát tốt nếu phát hiện sớm và can thiệp đúng giai đoạn. Thăm đồng thường xuyên, quan sát kỹ dấu hiệu bất thường trên lá, bẹ lá và bông lúa vẫn luôn là bước đầu tiên và quan trọng để bảo vệ năng suất mùa vụ.

Tuy nhiên, xử lý khi bệnh đã xuất hiện chỉ là một phần của bài toán. Để hạn chế bệnh hại ngay từ gốc, bà con cần một quy trình canh tác đồng bộ  từ chọn giống, dinh dưỡng, mật độ gieo sạ đến chế độ nước tưới thay vì chỉ trông chờ vào việc phun thuốc khi bệnh đã bùng phát. Đây cũng là hướng tiếp cận mà Hợp Trí Summit theo đuổi trong hơn 23 năm xây dựng quy trình thâm canh lúa cho nông dân Việt Nam, với một số điểm đáng chú ý:

  • Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chứng nhận quy trình là tiến bộ khoa học kỹ thuật cấp quốc gia (9/2013), đạt 5 điểm vượt trội: giảm chi phí, giảm phát thải, tăng năng suất, tăng chất lượng, chống thoái hóa đất.
  • Giảm 20 – 30% lượng đạm mỗi lần bón so với cách canh tác truyền thống, giúp cây lúa cứng khỏe, tăng khả năng phòng trừ sâu bệnh tự nhiên.
  • Có quy trình riêng cho canh tác lúa chuyên biệt, ví dụ trên đất nuôi tôm, đất phèn mặn… ưu tiên sản phẩm sinh học để không ảnh hưởng thủy sản, thổ nhưỡng và các  loài thiên địch.
  • Quy trình “Phòng chống Hạn – Mặn Hợp Trí” từng được Viện Nghiên cứu và Phát triển ĐBSCL khuyến cáo áp dụng, triển khai tại hàng trăm điểm giải độc mặn trong giai đoạn hạn mặn lịch sử 2015 – 2016.
  • Tiếp tục áp dụng trong đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL đến năm 2030.
Quy trình canh tác lúa Hợp Trí được Cục Trồng Trọt – Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật cấp quốc gia
Quy trình canh tác lúa Hợp Trí được Cục Trồng Trọt – Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật cấp quốc gia

Nhờ cách tiếp cận đồng bộ này, bà con áp dụng quy trình Hợp Trí không chỉ xử lý bệnh khi phát sinh mà còn chủ động phòng ngừa từ đầu vụ. Bà con có thể tham khảo thêm quy trình kỹ thuật thâm canh lúa Hợp Trí thích ứng biến đổi khí hậu để xây dựng phương án phù hợp với điều kiện canh tác thực tế tại ruộng nhà mình.